Bát nhã tâm kinh mộc giải

18:02 |

Bát Nhã Tâm Kinh Mộc Giải

Bát nhã ba la mật đa tâm kinh là bài kinh cô động lại của bộ kinh bát nhã, lời kinh súc tích gãy gọn nhưng không vì thế mà giảm đi chân giá trị. Những ai hành trì miên mật bài kinh này, tự khắc trí tuệ khai mở. Khi cơ duyên đến, tùy nghi đại ngộ sẽ đạt sự giải thoát mầu nhiệm ngay trong hiện đời.

Tôi tự thẹn Hán văn ngu muội, không dám tranh hơn luận thắng với các bậc tôn trưởng, cao đức. Chỉ vì muốn lời kinh trở nên gần gũi hơn với người học Phật, tôi đành một phen mạo muội. Đắc tội!

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh

Quán tự tại bồ tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá lợi tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.

Xá lợi tử! Thị chư pháp không tướng, bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung. Vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức. Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc, vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc, vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố. Bồ đề tát đỏa y bát nhã ba la mật đa cố. Tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo, mộng tưởng cứu cánh Niết bàn. Tam thế chư Phật y bát nhã ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la tam muội tam bồ đề.

Cố tri bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:

Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

Lời kinh như lời nhắn gửi của Đức Phật Thích Ca đến với người học Phật, y kinh  hành trì miên mật sẽ mau chóng liễu thoát sinh tử.

Phật thuyết:

Khi ta quan sát một vị bồ tát đã đạt được sự tự tại giải thoát, ta sẽ nhận thấy vị này chuyên tâm hành trì bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ tùy thuận ở mọi lúc, mọi nơi. Nhờ vậy mà vị Bồ tát này nhận ra  sắc thọ tưởng hành thức đều là tướng hư huyễn, không thật vì tất cả do duyên hợp. Do nhận biết lẽ thật đó mà vị Bồ tát vượt qua mọi khổ não, tai ách và phiền muộn.

Sắc do vật chất gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, đầu, cổ, tay chân, thân hình, máu huyết,… hợp thành. Thọ do cảm giác vui buồn, giận thương, yêu ghét,… hợp thành. Tưởng là những nhận thức nghĩ nhớ, ghi nhận, chuyện đã qua, việc hiện tại, tương lai,… hợp thành. Hành là tri giác, là những tâm ý dao động, lăn xăn, dừng nghĩ,… hợp thành. Thức là ý thức do tâm phân biệt, so sánh, đánh giá,… hợp thành. Bồ tát nhận thức rõ khi tách rời sắc thọ tưởng hành thức, và các bộ phận cơ thể như mắt tai, mũi lưỡi, da lông, móng tóc,... các cảm thọ vui buồn, yêu ghét, nhớ nghĩ, tâm ý lăn xăng, ý thức phân biệt,… thì sẽ không có ai là một vị bồ tát và ngay cả khi hợp nhất chúng lại cũng không có vị bồ tát nào vì lẽ sắc thọ tưởng hành thức khi hợp lại vẫn không dừng lặng mà diễn ra quá trình sinh trụ dị diệt,...

Chỉ có sự tự tại, an lạc của chân tâm là thường còn. Vì thế vị Bồ tát không còn tham đắm, không còn dính mắc những tranh giành, hơn thua, được mất, thật giả,… nên vị bồ tát không còn bị sự đau khổ, lo lắng bức hại.

Này người học Phật! Hãy tự nhận biết! Có thì không khác gì không, không thì không khác gì có. Có tức là không, không tức là có.
Vì lẽ thân xác người chết khi tan hoại vào đất thì thân người sẽ không còn mà con người thì phải chết. Nhưng khi còn sống, thân xác chưa tan hoại thì vẫn có thân người. Thế nên có thì đâu khác gì không, không đâu khác gì có và nói một cách khác thì có tức là không, không tức là có vì nó biến chuyển liên tục, không dừng nghỉ, không bền vững mãi mãi.
           
Cảm giác, nhận thức, ý thức, tri giác cũng đều như thế.
   
Chúng cũng biến chuyển liên tục, không dừng nghỉ, không bền vững. Ai có thể giữ mình vui hoặc buồn cả ngày. Nhận thức, ý thức, tri giác của mỗi người cũng không dừng lặng được. Việc đẹp xấu, những chuyện ngày mai, hôm qua,... vẫn thường chạy loạn trong đầu. Vì thế chúng cũng không khác gì không, cũng không khác gì có. Chúng cũng chính là không và cũng chính là có.
           
Này người học Phật! Hãy tự nhận biết. Tất cả các pháp đều không phải tồn tại ở dạng có hay không, cũng không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm. Tất cả các pháp đều không có hình tướng, không có cảm giác, nhận thức, tri giác, ý thức, tư duy. Cũng không có cái gì gọi là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Cũng không có gì là màu sắc, âm thanh, mùi hương, mùi vị, sự xúc chạm và các sự vật, hiện tượng. Không có cái bị thấy, không có cái thấy, cũng không có cái nhận biết phân biệt. Không có sự hiểu biết không sáng rõ, cũng không có sự hiểu biết sáng rõ. Không có sự già chết cũng không có sự không già chết. Không có sự khổ, không có nguyên nhân gây ra sự khổ, không có dứt trừ sự khổ, cũng không có dứt khổ. Không có sự hiểu biết trí tuệ, cũng không có pháp để đắc.
           
Vì bởi rõ biết có tức là không, không tức là có. Khi người học Phật sống được với cái biết đó thì sẽ rõ biết vạn pháp - Mọi sự vật, hiện tượng đều không phải tồn tại ở dạng có hay không? Tất cả chỉ do duyên, đủ duyên thời nhận thấy rằng có nhưng khi duyên biến diệt không còn nữa thời nhận thấy là không. Thế nên người học Phật sẽ nhận biết vạn vật sẽ không có sinh diệt, không có dơ sạch, không có tăng giảm. Sở dĩ có sự sinh diệt, dơ sạch, tăng giảm là do tâm phân biệt của con người, do con người quan sát, đánh giá ở góc nhìn hạn hẹp chứ không đặt sự vật hiện tượng ở góc nhìn tổng thể khách quan.

Đơn cử như khi ta nhìn một đống phân bò bên một gốc cây mận, ta sẽ thấy sự nhòm gớm, dơ bẩn. Sau một thời gian ta không thấy đống phân bò nữa và cây mận trước kia chưa có trái, bây giờ đã có nhiều trái chín mọng. Ta hái vài trái mận cho vào miệng ăn và nhận định cây mận có trái ngon ngọt, thanh mát. Vì không nhìn ở góc nhìn tổng thể nên ta vội quên cây mận tốt tươi, nhiều trái là do chuyển hóa đống phân bò gớm bẩn thành quả ngọt. Mọi vật trong cuộc sống cũng đều như vậy chúng không thể tự có mà nương nhờ các duyên, đủ duyên thì mới có thể sinh ra. Điều này đồng nghĩa với việc vạn pháp sẽ không có gì cả. Không hình tướng, cảm giác, nhận thức, tri giác, ý thức, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, màu sắc, âm thanh, mùi hương, mùi vị,… Không có sự hiểu biết trí tuệ, không có sự hiểu biết không trí tuệ, cũng không có pháp đắc, cũng không có pháp không đắc.
...         
Nhiều người tham cứu, học hỏi Phật đến đây thì mê mờ lý sự. Vạn pháp đều là không thì có gì để tu học, không có pháp để đắc thì tu hành mà làm chi. Những người theo ngoại đạo chỉ trích Phật giáo chấp không cũng ở lý này. Vì không nhìn nhận, đánh giá ở góc nhìn tổng thể, khách quan nên chúng sinh 3 cõi 6 đường mê mờ, lầm lạc.

Qua đoạn kinh văn này, bạn thấy vạn pháp là không nhưng ai là người nhận thấy vạn pháp là không? Đó là người tu học đạt quả vị Bồ tát. Vậy ra không phải vạn pháp hoàn toàn không mà còn có một vị Bồ tát tự tại.

Vị Bồ tát tự tại là ai?

Vị Bồ tát tự tại là người tự cứu mình thoát khổ và độ người thoát khổ. Vì lẽ con người tự nhận mình có thân, tham đắm nuông chiều thân sinh ra khổ. Hiểu lý lẽ đó vị Bồ tát đã hành thâm bát nhã ba la mật quán chiếu nhận rõ thân không thật, các pháp không thật để không còn dính mắc, nhằm xa lìa sự khổ. Cái mà vị Bồ tát cầu chứng đắc chính là cái không có gì để đắc, là không có người để đắc - Vô sở đắc.
           
Khi đạt cái pháp không có gì để đạt, vị Bồ tát đã y tựa vào bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ hành trì miên mật, và đạt được tâm không lo lắng, tâm không sợ sệt, tâm không kinh hoảng, từ đó xa rời sự mộng tưởng điên đảo về sự tồn tại cõi Niết bàn với Thường Lạc Ngã Tịnh. Ba đời chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đều y tựa vào bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí huệ hành trì mà chứng ngộ được quả vị chánh đẳng, chánh giác.
           
Khi đạt được pháp không có gì đạt được, vị Bồ tát tiếp tục hành trì miên mật sáu phép ba la mật cho đến khi tâm không còn xao động, không còn sợ sệt, lo lắng thì đạt được chánh định, đạt được chánh định rồi thì phát sinh chánh trí. Có được chánh trí rồi thì vị Bồ tát không còn động loạn, mong cầu về cõi Niết bàn Thường Lạc Ngã Tịnh nữa. Phật còn khẳng định “Cũng bằng việc hành trì liên tục, tùy thuận, không rời bỏ sáu pháp ba la mật mà chư Phật ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai đạt được sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn, đắc quả vị Phật”.

Vì vậy người học Phật phải rõ biết hành trì sáu pháp ba la mật bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ tùy thuận mọi lúc, mọi nơi thì đó chính là câu thần chú lớn nhất, là câu thần chú sáng rõ nhất, là câu thần chú cao tột nhất, là câu thần chú không có câu thần chú nào có thể so bì. Câu thần chú này sẽ có công năng diệt trừ hết mọi sự khổ nạn, tai ách. Đây là lời nói chân thật không có hư dối của Như Lai.

Ý từ của đoạn kinh văn trên đã rất rõ ràng, người học Phật phải tùy thuận, siêng năng hành trì sáu phép ba la mật thì sẽ đạt được sự tỏ ngộ và nhận ra đây là câu thần chú cao tột có công năng độ thoát con người ra khỏi mọi cảnh khổ. Người học Phật sẽ tự biết lời nói đó không chút hư vọng, là lời nói đúng thật.

Có thể trình bày Bát nhã ba la mật đa tâm kinh theo một cách khác, cách nói đơn giản, mộc mạc như sau:

Giải thoát giải thoát, giác ngộ giải thoát, giác ngộ sẽ được giải thoát. Đó là tự tánh bồ đề thường tại trong mỗi chúng sinh.

Cuối cùng, Phật lại thuyết có một cách đơn giản, ngắn gọn  hơn để người học Phật trì bộ kinh chứa trí tuệ bát nhã ba la mật đa. Đó là:

Người học Phật sẽ tự giải thoát bằng sự hiểu biết cùng tột về sự giải thoát hoàn toàn - Sự hiểu biết về không có cái tôi thường tại trong mỗi chúng sinh, khi sống được với sự hiểu biết giải thoát thì sẽ được giải thoát hoàn toàn.

Và đó chính là tự tánh bồ đề trong mỗi chúng sinh không bao giờ dứt mất.

Có lẽ phần trình bày về Bát Nhã Tâm Kinh Mộc Giải chỉ được những người tu học quan tâm nhưng thôi bạn hãy kiên nhẫn xem hết vì lẽ việc đọc một đoạn sách sẽ không hại gì.

Tôi sẽ tóm gọn toàn bộ quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…” qua hàm ý ẩn chứa trong câu chú “Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế. Bồ đề tát bà ha”.

Trong Tam tạng kinh, Phật cũng chỉ trình bày một vấn đề duy nhất, đó chính là con đường của sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn mà bất kỳ chúng sinh nào có hiểu biết, biết dừng lại, nhìn nhận và hành trì tùy thuận đều có thể đạt được.
Trong câu chú trên cũng không ngoài mục đích khuyên người tìm về nẻo sáng giác ngộ giải thoát.

Phật thuyết “Người học Phật hãy tự giải thoát bằng sự hiểu biết giải thoát”. Đó cũng là Phật tánh thường còn của mọi chúng sinh.

Nếu bạn hỏi:

- Tại sao phải tự giải thoát? Tôi có bị nhốt đâu? Ai nhốt tôi?

Tôi sẽ trả lời:

- Bạn đã tự nhốt bạn. Bạn nhốt mình trong xác thân giả tạm, luôn luôn tàn hoại. Bạn nhốt mình trong cái tôi điên đảo trôi lăn trong 6 đường.

Vì lẽ gì tôi biết điều đó?

Vì tôi bắt gặp bạn trong những lo toan, phiền muộn, khổ đau. Bạn tham đắm, u mê với tranh giành được mất. Bạn bước qua cuộc đời mình vội vã. Và ở tuổi xế chiều, bạn hụt hẫng, hoang mang. Bạn chỉ là nô lệ của cái xác thân vay mượn. Bạn chỉ thực sự là ông chủ khi hòa cái tôi nhỏ bé vào cái vô ngã viên dung của vũ trụ, của nhân loại. Ngay khi đó, bạn sẽ tự nhận biết những điều tôi nói là những lời chân thật. Bạn sẽ không còn khổ đau, không tham đắm, hoài nghi, si mê,… bạn chỉ giữ lại niềm an lạc, tự tại và sự giải thoát hoàn toàn khỏi thân tâm.

Để làm một ông chủ trong cuộc đời, bạn hãy tùy thuận hành trì sáu phép ba la mật bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Việc làm thiết thực này sẽ giúp bạn sớm nhận ra con đường của sự hiểu biết giải thoát là thật có, khi đó đạo và đời chỉ là một mà thôi.

Bạn cũng không phải tìm sáu phép ba la mật ở đâu xa.

Bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ là sẵn có trong con người bạn. Bạn chỉ việc lấy chúng ra và tùy thuận sử dụng.

#Nikaya_Đốn_Ngộ
#Một_thoáng_phương_Đông
#Hãy_là_đường_xưa_mây_trắng_bay

Điều kì diệu ở mặt trái của cuộc sống - Hãy mơ một giấc mơ đẹp

17:33 |
              IV. Điều kì diệu ở mặt trái của cuộc sống - Hãy mơ một giấc mơ đẹp.
Chủ nghĩa thực dụng đang xây dựng cho nhân loại một nhận thức đi tìm cái hay, cái đẹp trong cuộc sống. Bạn cứ ngỡ những cái hay, cái đẹp là rất nhiều nhưng cuộc sống không phải vậy.
Ẩn chứa bên trong sự hào nhoáng, vinh quang, bóng bẩy,… là những xấu xa, khốn cùng, tranh đua nghiệt ngã,…
Bạn có thể đánh mất chính bạn trước tham vọng danh lợi, bạc tiền.
Khi đó nhân cách, phẩm giá của con người bạn sẽ thả trôi theo dòng nước chảy, bạn được gì?
Danh phận hão huyền, tiền của như mây.
Bạn mất gì?
Mất đi sự tôn quý của bản thân, người thân rời bỏ. Xung quanh bạn là những toan tính, lọc lừa, tư lợi cá nhân. Quần áo tinh tươm, trang sức lộng lẫy, sự quyến rũ của hương nước hoa,… không che dấu sự băng hoại tâm hồn, những vết bẩn dơ tinh thần không thể gột rửa. Bạn hụt hẫng, gục ngã và cuồng loạn trong sự phồn vinh giả tạm.
Tuy nhiên, cuộc sống vẫn có mùa xuân hoa nở, tiếng mẹ hát ru con, những đêm trăng thanh gió mát, tiếng gà gáy trưa,… những điều đó làm cho cuộc sống rộn niềm vui và hạnh phúc.
Những cái đẹp, cái hay khi bạn cố tìm thì sẽ mất. Bạn nên đi tìm những cái hư, cái xấu để chúng mất dần đi. Bạn hãy đi tìm mặt trái của cuộc sống bạn sẽ nhận ra điều kỳ diệu. Khi đó, bạn sẽ nhận ra những cảnh đời bất hạnh những người mù lòa, tật nguyền lân la xin từng cái bánh, miếng ăn. Những thân hình kỳ dị, đầu to, tay chân teo tóp. Những người già lưng còm rao bán những tờ vé số rủi may.
Bạn còn nhận thấy nước mắt người mẹ chảy dài khi người con nghiện ma túy, nỗi đau của người cha cũng thầm dậy trong lòng,… Khi cầm lấy chén cơm bạn sẽ nhìn thấy rất nhiều những mảnh đời đói lạnh,... bạn sẽ quý hạt cơm hơn vì bạn biết rằng bạn còn có cơm ăn. Bạn thương quý gia đình hơn và hiếu thuận quay về...
Bạn cứ tiếp tục đi tìm ở những nơi tận cùng cuộc sống, sự sống vẫn tồn tại dù rằng rất khổ đau. Những người bạn nhiễm HIV đang chờ tử thần réo gọi, họ vẫn kiên tâm, gắng gượng nở nụ cười kìm nén nỗi đau, họ vẫn sống, vẫn làm việc.
Những trại trẻ mồ côi, những khu nuôi dưỡng người điên loạn, những nạn nhân chất độc màu da cam dường như hôm nay rộn ràng hơn ngày hôm trước bởi lẽ đã có những tấm lòng vàng đang nhen nhóm những niềm vui. Bạn sẽ thấy cuộc sống sẽ ý nghĩa hơn vì bạn học được sự hiểu biết để thương yêu.
Bạn cứ hãy đi tìm những trái ngang của cuộc sống cho đến khi bạn vỡ oà cảm xúc cuộc sống thật ngập tràn sự tươi đẹp lẫn niềm vui.
Bạn nghĩ sao?
Hơn 60 năm một cuộc đời?
Đời người dài rộng hay dường như ngắn ngủi?
Phải chăng cuộc đời chỉ như là một giấc mơ thoáng qua?...

Nếu bạn nhận ra đời chỉ dường như là một giấc mơ. Bạn hãy mơ một giấc mơ đẹp và giữ lấy điều mầu nhiệm đó. Cuộc đời bạn sẽ đẹp tươi khi bạn biết giữ gìn.

Lý Lẽ Đi Trong Phi Đạo

07:09 |
Tại sao tôi chọn con đường đi trong phi đạo?
Tôi tìm đạo giác ngộ, giải thoát vừa hay đạt được chút tỏ ngộ. Nhìn nhân loại đi trong mê lầm, tôi không khỏi xót xa. Đạo đời hai lối, người làm trái đạo thời nhiều.
Trái đất nổ tung còn không người tu học?
Đạo Phật bất tranh nhưng tôi phải tùy thời. Vả lại đạo Phật bất tranh vì Vô Ngã là tôn quý hơn cả.
Những điều tôi biết nói để ai nghe?
Việc tôi cần làm là trả kinh Phật về cho nhân loại. Giữ mãi kinh điển trong chùa chỉ e bụi bám, nhện giăng. Tôi biết khi khoác y áo Cà sa thì phải một lòng giữ đạo. Những điều tôi trình bày không nằm trong kinh điển thì hiển nhiên là sự thật khó nói ra. Nói ra thì tôi sẽ trở thành ngoại đạo. Vì lẽ đó tôi rõ biết mình không thể đi trong Phật đạo hành Phật đạo nên đành thôi đi trong phi đạo hành Phật đạo.
Vượt khỏi giới luật Phật môn, tôi lại vướng vào kiến chấp, nguyên tắc xã hội, pháp luật. Tôi tự nhận biết mình không làm sai và việc không thể không làm.
Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn cũng chính là một pháp môn giải thoát của Đức Phật. Nếu pháp môn nào của Phật cũng khai tông, lập giáo chẳng lẽ phải tạo lập ra tám vạn bốn ngàn tông giáo thuộc Phật giáo.
Nếu thật như thế thì không phải người học Phật sẽ mê mờ, bấn loạn sao?
Với những hiểu biết về tam giới, tôi hoàn toàn có thể khai tông, lập giáo. Chỉ chịu khó nhẫn nại đôi chút, tôi sẽ vào chùa thí phát quy y sau 5 năm. Trong khoảng thời gian này, tôi trao dồi sở học, kiến giải Phật pháp và chuyên tâm thiền định. Sau 5 năm, tôi lên chánh điện hoặc đến những nơi công cộng đông người qua lại,… Tôi ngồi thiền định miên mật 7 ngày, 7 đêm và sau đó truyền trao quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…”. Có lẽ sẽ không mất nhiều thời gian để tôi tạo dựng tông giáo riêng. Nhưng đó không phải là điều tôi cần làm, điều tôi cần làm là giao trả sự hiểu biết giải thoát hoàn toàn của Phật Thích Ca về cho nhân loại và cả 3 cõi 6 đường.
Thế nên khi Vô Ưu đã không khai tông, lập giáo thì mãi mãi về sau sẽ không có bất kỳ một tôn giáo nào được sáng lập vì tôn giáo đó sẽ là trá ngụy, vì lợi dưỡng mà thành hình. Tôn giáo đó là tà ma, ngoại đạo vì chỉ tạo ra những ngộ nhận mê lầm trong tinh thần của con người và chúng sinh 3 cõi.

Làm mà không làm

17:58 |
              II. Làm mà không làm.
Có lẽ sau khi xem hết phần I của sách Hãy là đường xưa mây trắng bay... sẽ có không ít người nghĩ tôi vì số tài khoản của quỹ Từ bi sinh hỷ lạc để viết quyển sách này.
Đó là một sự ngộ nhận đáng tiếc!
Nếu hiểu về luật pháp bạn sẽ nhận ra số tài khoản kia sẽ sớm được phong tỏa và kiểm soát. Tôi vẫn biết vậy. Song tôi vẫn làm và cả ngôi nhà Nối lại những yêu thương cũng sẽ vướng những hàng rào nguyên tắc.
Vậy tôi làm những việc vô ích kia để làm gì?
Tạo danh tiếng? Danh tiếng với sinh mạng cái nào quý? Sinh mạng với của cải, cái nào hơn?
Quả thật, tôi rất muốn thực hiện hai việc làm trên vì cuộc sống cần có người làm.
Tôi làm việc đó có tư tâm, tư lợi, có thực sự khách quan không?
Việc này có lẽ chỉ có trời biết, đất biết và tôi biết. Sẽ có người hoài nghi tính khách quan trong những việc làm của tôi.
Bạn có thật sự khách quan không khi hoài nghi việc làm của tôi?
Tôi cũng nhận biết sẽ không có nhiều người đủ kiên nhẫn để nghe tôi trình bày hai việc làm dường như hợp pháp. Còn việc đọc quyển sách có lẽ họ bận rộn và không thể thực hiện việc làm vô vị này. Vì thế họ không giúp tôi được.
Tôi không làm được điều đó không có nghĩa là người khác không làm được.
Xã hội vẫn đang có rất nhiều những quỹ từ thiện hợp pháp, những ngôi nhà tình nghĩa,…
Và điều tôi muốn chuyển tải đến những người có tấm lòng thánh thiện, bồ tát là hãy sống với trái tim, tình yêu thương chân thật.
Khi đó, bạn sẽ rất gần với đạo. Đừng dính mắc, để tâm vào những việc tốt đã làm, bạn sẽ tự nhận biết niềm hân hoan, vui sướng trong bạn và cả những người được bạn giúp đỡ sẽ tăng lên gấp bội.
Nếu hiểu rõ lẽ đạo tôi trình bày trong quyển sách thì bạn và đạo sẽ không là hai. Bạn đạt được chân thường, chân lạc, chân ngã, chân tịnh.
Thật không công bằng! Tôi chỉ nói mà không làm.
Không hẳn vậy! Tôi sẽ dùng 10 năm sức lao động của tôi để truyền trao quyển sách đến với bạn. Và ngay khi hoàn thành quyển sách, tôi sẽ đến bệnh viện, vào phòng hiến tặng cơ quan nội tạng, tôi sẽ hiến tặng bất cứ cơ quan, bộ phận nội tạng nào mà người bệnh đang cần. Đôi mắt, trái tim,… tôi cũng sẽ không cần giữ lại.
Tuy nhiên, ai sẽ dám lấy trái tim khi tôi còn đang sống?
Thế nên điều tôi cần làm tiếp theo là hành trì đi tìm giấc ngủ sâu không trở lại.
Tôi có một yêu cầu ràng buộc “Nếu có ai đó đến nhận lấy đôi mắt thì hãy cứ trả tôi về cuộc sống bình thường. Bạn không cần lo lắng, bảo bọc, chăm sóc,… chỉ dõi mắt nhìn xem tôi có còn hồn nhiên, vô tư, tự tại hay những điều tôi trình bày trong quyển sách chỉ là những dối lừa, những lời nói điêu ngoa”.
Nếu bạn nhận thấy tôi bước lê những bước chân thảm não bên đường bạn hãy đốt hết những gì “Hãy là đường xưa mây trắng bay…”.
Tôi vẫn chờ đợi bạn đến mang sự thật trả về cho nhân loại.
Nhân đây, tôi cũng gửi lại lời nhắn:
Bạn đừng chuyển tiền vào số tài khoản của Vô Ưu.
Quỹ Từ bi sinh hỷ lạc và ngôi nhà Nối lại những yêu thương chỉ là một lời nói suông?

Không hẳn vậy! Có lẽ khi quyển sách được rộng truyền thì quỹ Từ bi sinh hỷ lạc và ngôi nhà Nối lại những yêu thương sẽ dễ dàng được xã hội chấp nhận hơn. Tuy nhiên, bạn hãy làm với trái tim và tình yêu thương chân thật.

Lời tự tình của mây trắng

20:39 |
Chương VII

Việc thêm một câu hay bớt một từ, việc có hay không có quyển sách không làm tôi thông minh thêm hay ngu dốt đi. Nếu bạn không chập choạng bước đi trong mê lầm. Nhân loại đang sống trong sự hiểu biết và thương yêu, hòa bình và hạnh phúc. Hoặc là đã có ai đó lên tiếng đánh thức sự lầm lạc của nhân loại,  tôi đã không phải làm kẻ vụng về học đòi theo người đời viết sách.
Có lẽ khoảng thời gian đó tôi sẽ thảnh thơi nhìn mây trắng bay, ngắm lá vàng rơi,… cũng có thể tôi đang nghĩ về một mái nhà êm ấm,…
Rất nhiều câu từ trong sách khiến bạn nghĩ tôi đang cố tạo một hình tượng thánh nhân.
Bạn đã lầm! Thánh nhân toàn là những đã người chết, xương thịt cũng đã không còn. Người chết thì không thể biết và tự hào “Ta là một thánh nhân”.
Họ thành thánh nhân thì danh tiếng của họ đã bị lợi dụng, sẽ có không ít người sống nhờ danh tiếng của họ. Tôi không là thánh nhân.
Tôi đến với câu nói “Vô Ưu đến để giết chết người chết, cứu sống người sống”. Việc làm dường như vô nghĩa này sẽ là việc làm duy nhất của một đời Vô Ưu.
Với câu nói trên, tôi cũng không ngoại lệ. Chỉ khi tôi thật chết thì người đời sẽ không ngộ nhận, lạm bàn về Vô Ưu.
Đây có thể xem là di ngôn của Vô Ưu. Sẽ có một ngày tôi phải chết, nếu nhân loại tìm thấy và nhận ra cơ thể tôi còn có chỗ dùng được thì tùy nghi mổ xẻ. Cho đến khi thành phế vật vô giá trị thì bạn hãy đốt tất cả thành tàn tro và tùy thuận ném vào hư không. Đừng giữ lại khối thịt thừa hỗn độn, dễ hư hoại!
Vô Ưu không khai tông, không lập giáo, không truyền thừa.
Tuy nhiên, bạn sẽ trở thành Vô Ưu khi đạt được sự vô ưu. Nhưng Vô Ưu không nắm lấy thiên hạ. Thế nên mãi về sau sẽ không có Vô Ưu truyền thừa.
Tôi đã có lúc khởi ý tưởng “Chỉnh sửa nội dung, ngôn từ quyển sách cho thật hoàn hảo”. Vì tôi vẫn biết quyển sách trình bày không được chỉnh chu, ngôn từ, văn ngữ trùng lập, xáo trộn. Tôi tự biết văn phong thô vụng và việc trình bày đời đạo đan xen nhưng tôi lại rõ biết đời đạo vốn là một, tách biệt thời trái đạo. Thôi vậy tôi sẽ giữ vẻ mộc mạc của gỗ chưa đẽo bạn cứ tùy thuận xẻ mà làm đồ dùng.
Viết lại sự hiểu biết của loài người, lời văn cuồng ngạo,… bạn dễ dàng nhận ra sự tự phụ, cao ngạo và kiêu hãnh đến hợm hĩnh.
Sự tự phụ đó mang lại cho tôi lợi ích gì?
Có chăng điều đó sẽ khiến nhân loại căm hận, ghét bỏ, mạng sống tôi mong manh hơn và nếu mải mê giữ sự tự phụ, cao ngạo tôi chẳng thể bước rời khỏi 3 cõi 6 đường?
Tuy nhiên, tôi vẫn thể hiện sự cao ngạo, ngông cuồng cho bạn giận dữ, kích động cùng cực và dừng lại xem tôi là thứ người gì?
Khi đó bạn sẽ nhớ ra câu hỏi “Bạn là chủ hay làm nô lệ trong cuộc đời của bạn?”.
Thật ra, tôi đã có sự khiêm nhượng chỉ vì bạn sơ ý và chủ quan nên không nhận ra. Tôi đã không tự phụ viết ra sự hiểu biết của nhân loại. Tôi là người đi sau, tôi chỉ viết lại sự hiểu biết của nhân loại.
Và ở góc nhìn khách quan, bạn sẽ tự nhận biết “Tôi không phải là người làm chính trị dùng tôn giáo để an định tâm trí người dân. Tôi cũng không phải là nhà truyền giáo nương nhờ chính trị và các phương tiện truyền thông để tạo danh tiếng, gồm thâu lợi dưỡng. Tôi chỉ là một người hiểu chuyện thấy bạn đánh rơi một món đồ vật thì trân trọng nhặt lên và đem trả lại cho người chủ”.
Thật ra cũng có đôi lúc, tôi ngỡ tôi là thiên hạ nhưng thiên hạ thì vướng mắc việc thiên hạ. Sau cùng, tôi sẽ không là ai cả.
Điều quan trọng nhất khi nhìn nhận nội dung quyển sách, bạn hãy xét ở phương diện tương đối. Khuynh hướng trình bày nội dung quyển sách là mặt trái của các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống, dựa vào nền tảng là số đông.
Mục đích trình bày xuyên suốt quyển sách là khẳng định lại sự tồn tại của thế giới tâm linh, sự luân hồi và sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Nội dung quyển sách chứa đựng việc đánh thức sự hiểu biết của nhân loại. Chỉ mong tri thức nhân loại hãy nên nhìn nhận, xét lại mọi vấn đề trong cuộc sống ở góc nhìn tổng thể, khách quan nhằm nhận biết sáng rõ những sai lầm và sớm có giải pháp sửa sai phù hợp và chuẩn mực.
Quả thật, tôi không từng nghĩ là sẽ thực hiện việc viết sách. Nhưng nếu tôi không trình bày sự hiểu biết vào những trang sách thì tất cả những giải pháp sửa sai của nhân loại sẽ muộn màng, hận thù, đau khổ, chiến tranh,... lại bức hại loài người và tôi hiểu rằng “Khi tôi nói những lời như rót mật vào tai. Ai có thể nghe, chấp nhận khi trong lòng tràn đầy tham dục, sân hận, si mê và toan tính? Nếu thật nhân loại sớm nhận ra những gì tôi trình bày trong sách thì tôi đâu cần phải viết quyển sách bằng máu và mạng sống. Lúc bấy giờ, có lẽ tôi đã tìm đến một ngôi chùa hoang vắng, tôi sẽ múc nước tìm trăng. Có thể tôi giấu mình ở vùng quê yên bình, giữ lòng mình với những hồn nhiên,...”.
Xuyên suốt phần I, tôi đã đứng ở vai trò giữ đạo, đã biến đời đạo thành một khối mập mờ và hỗn độn. Chỉ có những người có sự hiểu biết nhất định về đời, về đạo thì mới tin nhận huyền nghĩa ẩn tàng trong quyển sách. Ở phần II, tôi nhận rõ vai trò đi trong phi đạo và đã hiển bày sự thật. Khi biết dừng lặng, bạn sẽ dễ dàng lĩnh hội sự thật đó nhưng điều đó là chưa đủ. Bạn cũng đừng mang những điều bạn cảm nhận được ra luận đàm, lý giải. Việc làm đó sẽ không có nhiều ý nghĩa vì những vui buồn, được mất, hơn thua,… vẫn còn trong bạn.
Chỉ khi bạn sống được với sự thật thì những muộn phiền, khổ đau sẽ không thể chạm được đến bạn. Bạn sẽ hạnh phúc, tự tại và đạt được sự giải thoát hoàn toàn ngay trong những giây phút hiện tại. Bạn hãy kiên nhẫn tìm ra sự thật. Đó là một việc làm rất hữu ích. Việc xem sách cũng tùy thuận, bạn không nhất thiết phải xem từ trang đầu đến trang cuối. Bạn cứ tùy tiện lật quyển sách ra xem và chỉ xem toàn bộ quyển sách khi bạn cảm thấy thực sự cần thiết.
Bạn hãy cho bạn cơ hội ở 3 lần giở sách.
Tôi cũng nhận biết quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…” sẽ sớm được nhân loại đón nhận vì lẽ chủ nghĩa thực dụng quá tàn khốc đã lấy đi những gì là tình người, sự cao thượng, lòng vị tha,… chỉ đem lại cho loài người sự mất mát, sự ích kỷ nhỏ nhen, sự hoài nghi, sự lọc lừa,…
Thế nên loài người đang bắt đầu đi tìm lại tình yêu thương chân thật, tâm hồn trong sáng, đời sống nội tâm lành mạnh và an định lại thế giới tâm linh.
Những ai sẽ là người dễ dàng lĩnh hội huyền nghĩa trong “Hãy là đường xưa mây trắng bay…”?
Là những người biết dừng lại. Dừng lại để uống một ly nước mát. Dừng lại thưởng thức một món ăn. Dừng lại để nhớ về những người đã khuất. Dừng lại nhìn những đứa trẻ nô đùa. Dừng lặng nhìn những cảnh đời bất hạnh… và trong lòng họ dừng lặng những toan tính, đua tranh,…
Những người đạt được sự giàu sang, bất chợt nhận ra và tự hỏi “Ta đang sống vì điều gì?".
Những người đang rơi vào cùng cực của khổ đau, họ sẽ nguôi ngoai khi nhận ra cuộc đời họ đã được viết thành trang sách.
Những người đang trên đường tìm đạo và tình cờ có được quyển sách này.
Những người có hiểu biết sống với trái tim thật sự biết thương yêu.
Những người không ích kỷ, biết vì nhau mà sống,… Đó là những người dễ dàng lĩnh hội được ý từ trong sách.
Dù bạn là ai?
Tôi cũng hy vọng quyển sách này được truyền trao đến tay bạn. Bạn hãy đọc qua dù chỉ một lần, bạn sẽ tự thay đổi cuộc đời mình. Có thể bạn bận rộn, đắm chìm trong những bôn ba, bạn sẽ lãng quên Vô Ưu.
Rồi có lúc bạn nhận ra cuộc đời là con nước ròng, rồi con nước lớn và Vô Ưu sẽ giúp bạn nhận ra bạn là dòng sông bình yên, tĩnh lặng, hiền hòa,...
Xuyên suốt việc trình bày nội dung quyển sách, dường như tôi luôn đặt tôi vào nẻo chết. Tôi đã “chạm đến” rất nhiều thành phần, tầng lớp xã hội khác nhau.
Tại sao tôi làm vậy?
Nếu chỉ đơn giản tôi là kẻ chán đời thì đâu cần phải tốn nhiều công sức và tâm huyết lắm vậy?
Thế giới tâm linh không thật có tôi đã không viết quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…”. Với tấm bằng kỹ sư trong tay, tôi có thể tự xây dựng một cuộc sống no đủ.

Nếu chán ngán sự đời thì tôi sẽ buông bỏ tất cả vào chùa làm người quét lá đa. Nhưng tôi vẫn viết sách bằng mạng sống, hy vọng bạn sẽ trân quý cuộc sống. 

Ván Cờ Trân Long

18:21 |
Chương VI

Quyển sách rồi cũng đã hoàn tất, làm sao tôi có thể nhanh chóng rộng truyền cho nhân loại. Tôi sẽ đi tìm những người đồng cảm - Những mạnh thường quân, họ sẽ hỗ trợ tôi chi phí in sách và họ sẽ giúp tôi truyền sách.
Tôi biết rằng rồi sẽ có người giúp tôi làm việc này.
Nhưng đến bao giờ và nếu đều đó xảy ra thì Vô Ưu thật chỉ là nói mà không làm?
Tôi sẽ tạo điều kiện cho quyển sách ra đời nhanh hơn. Tôi sẽ đưa quyển sách đến tay nhân loại bằng một con đường khác. Tôi sẽ đánh Ván Cờ Trân Long.
Đây là một ván cờ rất thú vị. Ván cờ này không có kẻ thắng người thua, cũng không phải là một ván cờ hòa.
Để chuẩn bị chơi ván cờ tôi sẽ bán sức lao động trong vòng 20 năm với số tiền 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng).
Tôi sẽ chia số tiền này ra làm hai phần chính. Một phần tôi sẽ in vào khoảng 5.000 quyển sách, phần còn lại tôi gửi về gia đình và giải quyết một số việc khác. Việc làm này xem như là trả nợ ân tình, tôi vẫn biết nợ ân tình không dễ trả hết.
Nhưng tôi lại nợ nhân loại sự hiểu biết và đã đến lúc phải trả lại. Đời người trung hiếu không phải lúc nào cũng có thể giữ vẹn toàn. Tôi đành cam làm người con bất hiếu.
Về hợp đồng lao động ban đầu. Người mua sức lao động của tôi sẽ phải chấp nhận kèm theo một hợp đồng ràng buộc. Tôi sẽ kết thúc hợp đồng ban đầu với mức giá 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) tùy thời. Điều này đồng nghĩa với việc ngay khi tôi mới vừa ký hợp đồng ban đầu mà tôi lại muốn giải phóng hợp đồng thì phải hoàn trả người mua sức lao động của tôi với số tiền là 500.000.000đ.
Trong suốt quá trình lao động, tôi vẫn có thể chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào nhưng vẫn đảm bảo số tiền 500.000.000đ. Dù thời gian giải phóng hợp đồng sớm hay muộn 1 năm, 10 năm, 20 năm thì số tiền 500.000.000đ vẫn là không đổi.
Ngoài ra, người chủ mua lao động cũng chấp nhận việc tôi cho đi một lá gan, một trái thận hay một bộ phận nội tạng nào đó trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng lao động.
Tuy nhiên, việc hiến tặng nội tạng được giới hạn ở mức độ tôi vẫn có thể đảm bảo tốt công việc.
Có lẽ người chủ chấp nhận mua sức lao động của tôi sẽ nhận thấy sự thiệt thòi trong hợp đồng nhưng đổi lại tôi sẽ toàn tâm, toàn ý làm việc, nghiêm túc và thành thật trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng.
Tuy nhiên, giới hạn của công việc là không trái với lòng người. Tôi sẽ cố làm tốt những công việc được giao dù là việc nặng hay việc nhẹ.
Ván Cờ Trân Long được bắt đầu. Tôi sẽ đi tìm người chi trả 500.000.000đ để giải phóng tôi ra khỏi hợp đồng. Tôi không cần biết người này thuộc quốc gia, dân tộc nào, chỉ cần muốn cùng tôi đánh Ván Cờ Trân Long và biết luật chơi của ván cờ.
Luật chơi của ván cờ là người mua gần như không được gì cả. Vì ngay sau khi thoát khỏi hợp đồng ban đầu mà người chơi Ván Cờ Trân Long không biết dùng tôi vào việc gì hoặc dùng tôi vào những việc có tính chất cá nhân. Khi đó, có thể tôi sẽ tự kết thúc hợp đồng bằng việc hiến tặng đôi mắt, trái tim cho những người cần. Có thể tôi thực hiện giấc ngủ sâu không trở lại. Có thể tôi đi đến ở những vùng bất ổn và sẽ bỏ mạng ở đó… Vì thế người chơi Ván Cờ Trân Long phải lĩnh hội được nội dung quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…”. Là người đã sống được với từ bi hỷ xả, dứt trừ được tham đắm, sân hận, si mê, hoài nghi và kiêu mạn. Chấp nhận đánh một ván cờ có phần thua thiệt.
Thật ra tôi đánh Ván Cờ Trân Long với hai mục đích. Một là để quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…” sớm truyền đến những nơi cần đến. Hai là tôi sẽ nhận biết được “Tôi sẽ là người giữ đạo hay là người phải đi hiển bày sự thật đến với nhân loại.
Nhưng dù hiện diện trong vai trò nào thì tôi cũng không chú tâm đến việc làm. Việc nào cần làm thì tùy thuận làm và như tôi đã nói bạn có thể đến để nhận lại trái tim, đôi mắt, quả thận, lá gan,… bất cứ thời điểm nào mà bạn cảm thấy cần đến lấy.
              III.  Hồi kết của Ván Cờ Trân Long.
Tôi vẫn biết người đời có thể bỏ hàng tỷ đồng để mua nụ cười một cô gái đẹp nhưng không hẳn đã bỏ ra 100.000đ để cho một gã ăn mày.
Với số tiền 500.000.000đ, tôi thật không là gã ăn mày nên vấn đề sẽ có phần khó giải. Nhưng tôi vẫn đánh ván cờ này, tôi có toan tính riêng. Tôi đi tìm chân tâm trong loài người.
Vạn nhất tôi tìm không gặp được chân tâm. Điều này đồng nghĩa quyển sách tôi viết là phế vật đáng bỏ đi. Người viết quyển sách cũng là phế vật đáng bỏ đi. Vậy thì tôi ôm mộng giữ đạo, cố tỏ ra vẻ cao thượng.
Tôi vẫn nhận biết có rất nhiều người thật lòng muốn giúp tôi thoát khỏi hợp đồng ban đầu nhưng họ không đủ sức. Vậy thôi không đủ sức thời đừng cố sức, tôi trân quý tình cảm của bạn.
Nhưng điều tôi cần không phải là giải phóng khỏi hợp đồng mà là tôi sẽ làm được gì sau khi thoát ra khỏi hợp đồng ràng buộc?
Còn những ai giàu sang hợm hĩnh, cố tạo ra sự cao thượng giả tạo, những kẻ hám danh,… muốn mua tôi ra khỏi hợp đồng ban đầu nhằm mục đích tư lợi cá nhân thì hãy thôi đi. Đó là một ý tưởng sai lầm và ngu ngốc.

Bạn có thể tự lừa gạt, tự che mắt mình chứ không thể dối lừa nhân loại và khi tôi nhận ra tư lợi của bạn thì bạn sẽ mất tất cả. Tôi sẽ mất và danh tiếng bạn cũng khó thể vẹn nguyên.

Lại nói về Phật Thích Ca

06:53 |
Lại nói về Phật Thích Ca:
Từ xưa đến nay, trong nhân loại chỉ có Phật Thích Ca là người khiến Vô Ưu phải vừa đáng kinh sợ, vừa đáng kính phục. Lý giải vấn đề này, tôi sẽ tỏ bày:
Phật là người đã từ bỏ vương quyền, vợ con để tìm đạo giải thoát, cứu khổ muôn loài. Đây là một việc làm rất dũng mãnh bởi lẽ đạo lớn không tìm được thì Phật sẽ trở thành con người bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất hiếu.
Phật có cái nhìn rất toàn diện, hiểu biết cùng tột. Khi lánh đời, tìm đạo thì Người mặc y phục tối màu, thể hiện sự xa rời đời, học đạo. Đến khi đạt đạo giải thoát, Người nhận ra cần phải rộng truyền đạo pháp sâu rộng đến mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội. Người đã chuyển thể từ y phục sẫm màu sang y phục sáng màu - Màu vàng để tạo ấn tượng đẹp, bắt mắt về một giáo đoàn những người tu đạo giải thoát đến với tất cả mọi người trong xã hội.
Điều này góp phần cho mọi người chú ý học hỏi giáo lý, giáo pháp về đạo giải thoát.
Câu chuyện Phật vừa sinh ra đã bước đi bảy bước hiện ra bảy đóa sen rực rỡ và một tay chỉ trời, một tay chỉ đất rồi cất tiếng nói “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” - Trong cõi trời đất chỉ có ta là tôn quý hơn cả. Duy chỉ có trí tuệ Phật mới nói được câu nói này.
Có thể xem đây là một câu Slogon đầu tiên của nhân loại. Câu nói thể hiện chỉ có cái ngã của Phật là cao quý, to lớn và trùm khắp hơn cả.
Đã có rất nhiều người tìm hiểu Phật giáo cạn nghĩ vội trách “Phật đã nói dối vì Phật đã phá bỏ cái ngã rồi mà sao còn tự cao, tự đại?”.
Họ đã lầm lạc! Phật thật sự đã phá cái ngã thành vô ngã vì thế cái ngã của Phật là cái vô ngã, là tâm, là đạo. Thử hỏi có cái gì không tồn tại trong tâm, trong đạo, trong cái vô ngã. Thế nên cái vô ngã là cao quý, to lớn cùng cực.
Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn cũng chính là một pháp môn giải thoát của Đức Phật. Khi bạn tìm ra huyền nghĩa trong câu nói này thì xem ra bạn đã lĩnh hội được đạo giải thoát.
Trong kinh Phật có rất nhiều điều Phật thuyết mà khi đối chiếu với đời sống hiện tại, tôi thật sự giật mình kinh sợ.
Phật thuyết “Về sau con người tham lam, sân hận, si mê đến mức có thể dùng lá cây, ngọn cỏ để đoạt mạng người và cũng chính do sự tham lam, sân hận, si mê,… mà tuổi thọ con người sẽ giảm xuống. Con người sinh ra và chết đi trong vòng mười ngày, ba ngày sau khi sinh là đã có thể sinh con,...”.
Bạn sẽ thấy thật vô lý, tôi cũng thấy vậy. Cho đến khi tôi nhìn ở góc nhìn tổng thể, không chấp chặt câu từ và thời gian thì sự việc lại khác.
Quả thật người đời nay đâu cần đến vũ khí để giết người.
Những chiếc máy bay dân dụng, tòa nhà chọc trời, xe điện ngầm, sữa, thức ăn, thức uống,… phải chăng đã được dùng để giết người khi con người tham đắm, u mê, sân hận?
Tuổi thọ con người thực sự đang nâng lên hay giảm đi khi xét trên phạm vi thế giới và những đứa trẻ phải chăng đã dậy thì, phát dục sớm hơn so với những thế hệ trước?
Cõi giới A Di Đà cũng cho tôi nhận biết cái nhìn thấu đáo, cùng tột của Phật Thích Ca. Khi hoàng hậu Vi Đề Hi chứng kiến cảnh con bà - Vua A Xà Thế bức tử cha mình - Vua Tần Bà Sa La, bà đã rất tuyệt vọng, cố tìm đến gặp Phật. Phật nhận biết rõ tình cảnh của bà Vi Đề Hi, biết rằng có khuyên giải thế nào thì cũng không xoa dịu, không làm nguôi ngoai, không thể an định tinh thần của hoàng hậu. Phật đã thuyết về cõi A Di Đà tuyệt đẹp, là nơi không có khổ não bức hại. Việc làm này đã giúp hoàng hậu Vi Đề Hi gắng gượng tinh thần, sống hành trì tu học để vãng sinh về cõi A Di Đà.
Cõi A Di Đà là thật có và bạn chỉ có thể về đến cõi Phật này bằng niềm tin và sự hiểu biết giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Phật Di Lặc ra đời cùng với từ bi hỷ xả. Đây cũng là một pháp môn của Đức Phật. Đó là con đường mà nhân loại phải bước đi nếu loài người muốn tồn tại. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các nước trên thế giới, giữa người với người trong mỗi quốc gia là quá lớn. Điều này ẩn chứa những bất ổn xã hội, loạn lạc, chiến tranh  xảy ra là điều rất khó tránh khỏi.
Trên thực tế cả người giàu lẫn người nghèo đều đang có những bấn loạn nội tâm. Người giàu đang mải mê tham đắm, tích góp tài sản nhưng vàng bạc đầy nhà làm sao giữ nổi và giữ để làm gì. Con cái hư đốn, trụy lạc.
Thế nên bạn giữ tài sản lại cho ai?
Con bạn không phải là kẻ vô dụng, bất tài. Con cháu có phúc phận của con cháu. Người nghèo khó tất bậc trong cuộc sống, nỗi lo cơm áo gạo tiền, lao tâm, khổ trí. Vậy thì bạn càng nên phải bố thí.
Bạn sẽ hỏi:
- Tôi có gì để bố thí?
Tôi sẽ trả lời:
- Bạn có cái gì thì bố thí cái đó. Bạn có nỗi lo cơm áo gạo tiền, sự lao tâm, khổ trí,... Bạn bố thí tất cả những thứ đó đi. Bạn còn sống là còn phải làm nhưng bạn hãy quên nỗi lo đi, quên sự lao tâm, khổ trí đi. Bạn giữ chúng làm gì chỉ khiến bạn thêm bạc nhược và hèn kém. Dù muốn hay không thì bạn vẫn phải làm và sống. Than vãn kể khổ thì có ích gì. Nếu nhân duyên chưa đến thì khi bạn phải chết đói ngay trước mặt, tôi cũng không đưa cho bạn cái bánh mì mà tôi đang cầm trên tay.
- Bạn còn gì nữa?
Bạn còn có nụ cười. Bạn hãy bố thí nụ cười, hãy giữ nụ cười trên môi tinh thần bạn sẽ phấn chấn. Bạn, những người thân yêu của bạn sẽ vơi bớt những khổ đau và mọi người sẽ gần với bạn hơn.
...
Những quốc gia giàu có, có cần phải giúp đỡ các nước nghèo đói mà không toan tính, vụ lợi?
Bạn sẽ không làm khác được vì sự bất ổn của các nước nghèo đói sẽ gây biến động đến toàn thế giới. Sự đói nghèo khiến con người coi thường mạng sống sẽ nhập cư bằng mọi hình thức vào nước bạn sẽ gây rối loạn xã hội làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, tệ nạn xã hội, băng nhóm, cướp giật, bạo loạn khắp nơi.
Bạn sẽ không thể kiểm soát được biên giới và ngăn chặn được việc nhập cư trái phép. Bạn có thể bắn giết vài người nhưng không thể giết hết tất cả. Bạn sẽ phải bắn những người mà họ phải nuốt cỏ khô, nhai dép cao su, nhặt phân bò ăn cho đỡ đói,...
Những người bạn nước nghèo, bạn phải tự lực tự cường, phải tự xây dựng lại cuộc sống. Việc trốn chạy sang nước khác tiềm ẩn nhiều rủi ro, mất người thân là điều khó tránh khỏi và đất nước bạn lại càng chìm sâu vào nghèo đói. Dân tộc bạn cần bạn để xây dựng lại cuộc sống, người thân của bạn cũng không muốn mất bạn. Sự đoàn kết dân tộc và nhân loại sẽ là một phép màu.
Hãy tin vào điều đó!
Từ bi hỷ xả là hãy biết sống yêu thương, đồng cảm với nỗi đau của những người khốn khổ nghèo. Giúp họ bạn sẽ có nhiều niềm vui, hãy quên đi những việc tốt đã làm được. Vì khi đó bạn sẽ làm thêm được nhiều việc có ích hơn, bạn sẽ có nhiều niềm vui hơn.
Nếu không dính mắc tâm trí bạn sẽ được thảnh thơi, thanh thản, bạn sẽ gần với đạo. Khi đạt được chánh định bạn sẽ là đạo, là Phật, là Bồ tát thể nhập Niết bàn - Thường lạc ngã tịnh.
Chỉ khi bạn đạt được chữ xả thì bạn mới có thể làm mọi việc một cách chân thành, không toan tính, vụ lợi. Khi đó bạn thật sự lớn lao và vĩ đại.
Còn rất nhiều điều mà Phật thuyết ra tương hợp với cuộc sống nhưng tôi không thể trình bày hết được và vì một lý do khác nữa.
Tôi lại mượn một câu chuyện Phật đã kể:
Một buổi chiều từ rừng về, Phật cầm trong tay một nắm lá Simsapa. Người đưa nắm lá lên và hỏi các vị khất sĩ:
- Các vị khất sĩ! Lá trong tay tôi nhiều hay lá trong rừng nhiều?
Các vị khất sĩ đáp:
- Lá trong tay Phật thì ít mà lá trong rừng thì nhiều.
Phật  nói:
- Cũng như thế đó, các vị khất sĩ! Những điều tôi biết do sự thực chứng thì nhiều, nhưng những điều tôi dạy cho quý vị thì ít.
- Tại sao lại như vậy?
Tôi chỉ muốn trình bày cho quý vị những gì thực sự lợi ích cho công trình tu tập của quý vị mà thôi…
Sở dĩ, Phật hái nắm lá Simsapa và hỏi câu hỏi dường như vô nghĩa “Lá trong tay tôi nhiều hay lá trong rừng nhiều” là vì ở thời điểm đó có nhiều người tu học khởi hỏi những câu hỏi siêu hình không có lợi ích gì cho việc giác ngộ giải thoát.
Phật muốn cảnh tỉnh những người tu học thời đó về mục đích thực sự của họ khi tìm đến đạo Phật.
Tiếp đó, Phật đã kể câu chuyện về một người bị trúng tên độc.
Ví như có một người bị trúng một mũi tên có tẩm thuốc độc. Khi người thầy thuốc muốn nhổ mũi tên ra, bôi thuốc để trừ độc. Nhưng người bị thương đã không cho người thầy thuốc đụng vào vết thương.
Người ấy nói:
- Khoan đã, trước hết tôi muốn biết ai là kẻ đã bắn mũi tên này? Tên họ người đó là gì? Mấy tuổi? Ở đâu? Làm nghề gì? Thuộc giai cấp nào? Tại sao lại bắn tôi? Tôi cũng muốn biết: Loại cung đã bắn ra mũi tên này là loại cung nào? Trên mũi tên đó có tẩm chất độc loại gì? Lấy từ đâu?...
Người bị thương đó sẽ chết trước khi anh ta tìm ra được hết những câu trả lời.
Bạn cũng vậy! Nếu bạn cứ u mê tìm hiểu những vấn đề không có lợi gì cho sự liễu thoát sinh tử, cho sự dứt trừ khổ đau. Bạn sẽ phải trầm luân trong muôn muôn kiếp.
Vũ trụ là hữu biên hay vô biên, là hữu hạn hay vô hạn, sự hiểu biết này có giúp bạn được sự an lạc, giải thoát không?
Tuy nhiên, khi bạn đạt được đạo ta chưa từng sống thì bạn sẽ rõ biết vạn pháp.
Bạn sẽ không tìm thấy rất nhiều điều tôi đã trình bày trong quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…” ở bất kỳ quyển kinh sách nào. Vì đó chính là những chiếc lá trong cánh rừng Simsapa - Nơi Phật đã từng hái một nắm lá để xóa tan những câu hỏi siêu hình không lợi ích cho người tu hành thời đó.
Vậy tại sao tôi làm điều này?
Ngày nay, tri thức con người đã được nâng cao. Bạn không chỉ sống bằng niềm tin, bạn cần sự hiểu biết để củng cố, khẳng định lại tính xác thực của sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn, con đường Phật đã đi.
Hơn nữa, tâm phân biệt của con người đã tách rời đời đạo. Người làm việc trái đạo thời nhiều. Xã hội đang ngấm ngầm những bất ổn, rối ren. Lòng người đa đoan, bấn loạn,…
Tôi thể theo bi nguyện của Phật Thích Ca giúp nhân loại hợp nhất đời đạo - Góp phần giúp bạn nhận ra đạo, sống tùy thuận theo đạo để bảo toàn sự sống trên trái đất. Thế nên tôi phải mạo muội hái vài chiếc lá Simsapa.
Bạn đừng hỏi bất kỳ ai những điều bạn hoài nghi là đúng hay sai?
Cho dù đó là bậc chân tu thực thụ vì lẽ những bậc chân tu thường chán ngán sự đời, lánh vào đạo mà nội dung quyển sách tôi trình bày chuyện đời không ít.
Chuyện đời cũng chính là vài chiếc lá trong số những chiếc lá Simsapa tôi đã hái mang về. Thế nên bạn chỉ có thể tìm câu trả lời ngay trong tự tâm.

Cũng đừng tìm gặp tôi hỏi đáp luận bàn. Những điều tôi viết rất thật, bạn đã hoài nghi dò hỏi chỉ dẫn đến tranh luận. Tranh luận là trái đạo, gặp tôi vô ích.

Đạo, đời và tôn giáo (P.3)

21:36 |
Phật Giáo:
Ở góc nhìn tổng thể, Vô Ưu sẽ có những nhìn nhận khách quan về các tôn giáo có nguồn gốc Phật giáo.
Mật tông:
Có phần thiên lệch về phần tâm linh, người tu Mật tông tiếp cận với cõi giới vô hình bằng các chú thuật, nhờ tha lực cõi giới vô hình mà tin sâu vào sự giác ngộ giải thoát.
Nhìn nhận ở mức độ tương đối Mật tông cơ hồ có nét giống Hồi giáo.
Tịnh độ tông:
Xây dựng niềm tin cho Phật tử về cõi Tây Phương cực lạc của Phật A Di Đà. Lập ra kiến giải người tu tịnh độ hành trì tự lực tu hành, tin sâu lời nguyện của Phật A Di Đà, khi vãng sinh sẽ được tiếp dẫn về cõi Tây Phương. Điều này đồng nghĩa với việc người tu tịnh độ ngoài tự lực của bản thân còn được tha lực tiếp dẫn.
Nhìn nhận ở mức độ tương đối Tịnh độ tông cơ hồ có nét giống Kito giáo.
Thiền tông:
Không cầu tha lực, tự lực hành trì, chú trọng thiền định, giữ tâm thanh tĩnh.
Nhìn nhận ở mức độ tương đối cơ hồ có nét giống Lão giáo.
Gần đây xuất hiện vài tôn giáo dựa vào kiến giải Phật Di Lặc sẽ hạ sinh trong tương lai đã khai tông, lập giáo thờ Phật Di Lạc.
Nhìn nhận ở mức độ tương đối cơ hồ có nét giống Kito giáo thời kỳ buổi đầu lập giáo, dựa vào lời tiên tri của kinh Phật.
Tuy nhiên, tôi nhận định những tôn giáo này có phần trá ngụy. Có thể việc khai tông, lập giáo chỉ nhằm mục đích lợi dưỡng hoặc có ẩn chứa mưu đồ khác.
Tôi rất hy vọng bạn nhận thức rõ mục đích của bạn và chuyển mục tiêu về hành trì theo chánh pháp.
Dù vậy, đã có sự khác biệt của các tôn giáo có nguồn gốc từ Phật giáo với các tôn giáo thuộc về Thần giáo. Đó là các tôn giáo thuộc về Phật giáo có lưu giữ Tam Tạng Kinh của Phật Thích Ca.
Trong Tam Tạng Kinh có ẩn chứa sự hiểu biết giác ngộ giúp chúng sinh trong 3 cõi thoát khỏi luân hồi, giải thoát hoàn toàn. Người học Phật nên tự nhận biết tìm về cõi Phật là dựa vào trí tuệ - Sự hiểu biết về giác ngộ, về sự giải thoát hoàn toàn.
Nếu người học Phật chỉ dựa vào niềm tin, định lực thì cơ hồ còn thiếu. Vì thiếu sự hiểu biết về giải thoát hoàn toàn chính là thiếu chánh định. Khi nhận biết được chánh định thì hãy sống với cái biết đó. Ngay đó chính là cõi Phật.
Lại nói về sự suy vong của Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc:
Ấn Độ:
Sau khi Phật nhập diệt một khoảng thời gian lâu xa thì giáo lý kinh điển của Phật đã không còn giữ được chân giá trị ngay tại Ấn Độ. Bởi vì tư tưởng của Phật giáo cũng bất tranh, bất bạo động.
Hơn nữa, những vị Tổ về sau thân phận, sự hiểu biết và đạo pháp không uyên thâm bằng Phật nên không thể giữ sự hưng thịnh của Phật giáo ngay tại nơi Phật sinh ra.
Điểm mấu chốt của kinh điển của Phật là phá ngã. Phá tiểu ngã hòa vào đại ngã, phá đại ngã hòa vào vô ngã. Điều này không phải dễ thực hiện.
Trong khi tư dục, lòng tham của con người thì lại rất lớn, giới thống trị và giới Bà la môn cùng với các tôn giáo khác ở Ấn Độ thời đó.
Đặc biệt là Hồi Giáo đã triệt hạ Phật giáo để thu gom lợi dưỡng và giành lấy quyền chi phối tinh thần con người thông qua yếu tố tâm linh.
Phật giáo đã suy vong ngay chính tại nơi được khai sinh.
Thực tế thì đạo Phật đã có sự chia tông, rẽ giáo từ trước đó do tư dục của con người, do cái tôi trong những người học Phật chưa phá bỏ được. Mỗi mỗi người học Phật đều cho rằng pháp môn hành trì của bản thân là cao tột, tranh hơn luận thắng. Gây sự chia rẽ cho người tu học.
Những bậc chân tu, thực học chán ngán sự chia rẽ tông giáo đã bỏ vào những động đá sâu trên dãy Hymãlạpsơn. Đây là những dấu hiệu của đạo Phật rơi vào thời kỳ Mạt pháp.
Trung Quốc:
Tổ Bồ Đề Đạt Ma nhận thấy nhân duyên giáo hóa Phật pháp ở tại Ấn Độ đã không còn tương hợp đã xuống thuyền sang Trung Quốc.
Tổ Bồ Đề gặp vua Lương Võ Đế nhưng không hợp căn cơ, nhận biết người học Phật ở Trung Hoa rơi vào kiến giải, lạm bàn. Tổ Đạt Ma bỏ vào núi, chín năm ngó vách.
Sau gặp Nhị Tổ Huệ Khả, căn cơ khế hợp, dùng một câu nói đưa Nhị Tổ đạt được chánh định. Khai sáng pháp môn tâm truyền tâm.
Trải qua năm đời tổ đến đời Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, Phật giáo được rộng truyền khắp Trung Quốc nhưng lại mất đi chân giá trị vì người tu học vướng vào kiến chấp, luận giải mê mờ. Người học Phật lại tranh danh, đoạt lợi, dưới mắt không người.
Cụ thể, khi Lục Tổ Huệ Năng đền cầu Ngũ Tổ học pháp thì đã bị đồng môn khinh rẻ vì ông là người hạ liệt, ít học.
Tuy nhiên, đạo giải thoát không quý trình độ học vấn mà là ở tâm và căn cơ người cầu pháp, Lục Tổ đắc pháp, nhưng khi nhận lấy y bát phải trốn đi cho thấy đã có sự tranh giành về địa vị trong Phật giáo. Lục Tổ là người ít học, song lại có pháp khí đại thừa. Lục Tổ Huệ Năng là người làm bừng sáng pháp môn đốn ngộ.
Về sau thiền tông chia ra làm năm dòng thiền khác nhau, tùy cơ mà dùng pháp giúp người tu học đạt được sự giác ngộ giải thoát.

Nhưng đây cũng chính là đầu mối họa chia tông, rẽ giáo của Phật giáo. Những người được truyền thừa về sau không phải ai cũng đắc pháp dẫn đến tranh giành Phật tử, thu gom lợi dưỡng. Dẫn đến đạo pháp suy vi, người tu học rơi vào kiến giải, lạm bàn gây ngộ nhận cho người sơ cơ tham học, việc truyền pháp bị lạc lối - Lấy ngọn bỏ gốc.